-
Thưởng thức
Uống ấm Trà ngon, nói đôi câu chuyện hay, bên những người bạn tốt...
-
Không gian
Sự kết hợp giữa không gian sáng tạo trong nhà và cảnh sắc tự nhiên, đem lại những cảm nghiệm thú vị...
-
Triết lý
Trà ngon bởi nụ cười, nhờ nụ cười mà Trà mới ngon...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công phu Trà đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Trà đạo là một nghệ thuật, đòi hỏi không ít công phu.
– Flame,
——————
Chương 1: Phân loại Trà
Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa khá nhiều và trà đạo cũng không phải là ngoại lệ. Sau nhiều năm lịch sử người Việt không chỉ chọn lọc, tiếp thu mà còn cải tiến nó cho phù hợp với đời sống, quan niệm của dân tộc mình. Giống như chữ Hán Việt – hòa trộn cả phần Hán học và Việt học, thì trà đạo Việt Nam cũng chứa đựng cả cái công phu khi thưởng trà Tàu và cả cái bình dân, đời thường của trà Việt.
1. Tên chung:
Về cơ bản, trà Việt chia thành hai loại chính: Trà xanh và Trà mạn. Ngoài ra còn có một loại đặc biệt khác là Trà Cung đình.
– Trà xanh, tức là lá trà tươi được hái từ trên cây xuống, rửa sạch, lau hoặc phơi khô nước rồi buộc thành từng nắm (bó, mớ) trà. Khi uống lấy ra, vò hơi nát, pha vào ấm tích (loại ấm to, dùng để pha trà xanh). Một ấm tích trà xanh có thể để hãm và uống trong cả ngày, nước trà màu vàng tươi, vị chát mà mát dịu, rất dễ uống và tốt cho sức khỏe. Trà xanh thường được ưa dùng nhiều hơn ở khu vực thôn quê.
– Trà mạn hay còn gọi là trà khô, trà móc câu, lá trà đã qua sao chế, tẩm ướp theo nguyên tắc, quy trình cẩn trọng… Loại trà này được dùng phổ biến nhất, trong mọi gia đình, mọi dịp lễ hay thậm chí là cuộc sống thường ngày. Vị và nước của trà mạn đều đậm hơn trà xanh nhiều, người không quen uống có thể thấy đắng chát, tỉnh táo đến mức khó ngủ. Nhưng khi uống quen rồi thì như một thứ nghiện, không uống không chịu được. Cái chát của trà, cái cay của rượu, cái mặn của muối, và khói thuốc, và bã trầu… tất cả làm nên nét văn hóa đặc trưng cổ truyền của dân tộc Việt.
– Trà Cung đình, là loại trà đặc biệt bắt nguồn từ Huế, tương truyền trước đây dùng để tiến vua, được xem như một trong những vị ẩm thực Nhất dạ đế vương trong hoàng cung. Truyền rằng hiện nay, những gia đình làm trà cung đình có tiếng ở Huế đều thuộc dòng dõi vua quan triều Nguyễn khi xưa.
Trà Cung đình
Loại trà này là hỗn hợp của lá chè cùng một số vị thuốc khác như du tử, cát căn, cam thảo, long nhãn, táo tàu… được bào chế theo một bí quyết riêng của chốn cung đình như: chọn giờ để sao vàng hạ thổ thảo dược đúng với luật Âm – Dương… Trà Cung đình khi uống có vị ngọt, thơm của lá thuốc, có thể thêm nước nhiều lần mà mùi vị vẫn còn rất tốt.
2. Tiểu nhóm:
Tiểu nhóm là một cách chia nhỏ hơn đối với Trà mạn. Có ba loại chính là: Trà Shan Tuyết, Trà đồi (vườn) và Trà ướp hương.
– Trà Shan Tuyết (*): Đó là những cây trà cổ thụ cao từ 2m đến 6m, mọc hoang dại trên núi cao. Khi hái trà, người ta phải bắc thang mới hái được. Trà Shan Tuyết phân bổ ở ba vùng. Nhiều nhất là ở tỉnh Hà Giang gồm: Nậm Ty, Lũng Phìn, Đồng Văn, Phìn Hồ và Tà Phìn. Vùng thứ hai là Mộc Châu (Sơn La) và vùng thứ ba là Suối Giàng (Yên Bái). Riêng ở Suối Giàng hiện nay có một cánh rừng trà cổ thụ khoảng 40.000 cây, trong đó có ba cây trà chiều cao 8m, đường kính ba người ôm không xuể.
Trà Shan Tuyết có hai đặc điểm:
Thứ nhất, đây là những cây trà mọc hoang dại nên không bao giờ người ta bón thuốc trừ sâu và phân hóa học. Chính vì thế, Shan Tuyết là một loại trà tinh sạch hoàn toàn.
Thứ hai, những cây trà này chỉ mọc trên núi cao, từ 800m đến 1.300m so với mặt biển. Sương phủ quanh năm trên núi đã tạo cho búp trà màu tuyết trắng. Người ta gọi trà Shan Tuyết là vì vậy. Shan là chệch của chữ “sơn”, tức là núi.
– Trà đồi (**): Nhắc đến trà (chè), người không cần tìm hiểu sâu lắm cũng có thể buột miệng nói ngay là – chè Thái Nguyên. Đây chính là loại chè bình dân, được dùng phổ biến nhất hiện nay.
Chè Thái Nguyên
Thái Nguyên, đặc biệt là khu vực Tân Cương, Đại Từ có những đồi, nương chè rộng bát ngát, hương thơm tự nhiên, có vị chát nhẹ khi mới uống nhưng sau khi uống xong thì thấy ngọt lắng sâu trong vị giác, màu nước xanh. Trà Thái Nguyên ngon là do: “Vùng chè có tiểu khí hậu nhờ dãy núi Tam Đảo, Thằn Lằn chắn bớt cái nắng gắt mùa hè, đồng thời nguồn nước của Sông Công và hồ Núi Cốc ngấm qua các mạch ngầm đã tưới mát cho những vườn chè xanh tốt quanh năm”…
Ngoài Thái Nguyên còn những đồi (cao nguyên) trà nổi tiếng khác như: Cao Bằng (trà đắng), Tuyên Quang, Phú Thọ, Bảo Lộc (Ô long), Đà Lạt…
– Trà ướp hương: Nguyên liệu để làm nên loại trà này là trà mạn được lấy từ những vùng trồng trà đồi nổi tiếng kể trên và các loại hoa có hương thơm như sen, nhài, ngâu, sói, cúc, sứ, bưởi…
Trong các loại trà ướp hương thì Trà Sen được coi là cầu kỳ nhất, đặc biệt nhất. Một kg trà phải ướp với 1,4 kg nhụy sen (thường gọi là gạo sen) được tãi từ khoảng 1.400 bông sen. Sen mới hái về phải đem ướp ngay, để lâu sẽ kém thơm. Trà được đựng trong liễn sành đậy kín vung, cứ một lớp trà dày bằng bàn tay thì ở dưới rải một lớp gạo sen mỏng hơn lên trên, ướp trong hai ngày rồi lấy ra sấy đủ một ngày. Hỗn hợp trà – sen được sấy trong một ngày rồi mang ra sàng, bỏ hết gạo sen cũ và lại cho gạo sen mới vào, tiếp tục ướp cho gạo sen dần dần ngấm sâu vào trong búp chè. Một mẻ trà phải ướp và sấy 8 lần như vậy…
Trà hương nhờ đó có thể uống được nhiều nước mà hương vẫn thơm, màu vẫn đậm, đem lại cảm giác khoan khoái, bình an trong tâm hồn người thưởng trà.
——————-
Chương 2: Trà cụ
Trà đạo Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với trà đạo Trung Hoa. Chương này, quyển này, chỉ đề cập đến một số nét khác biệt của riêng trà cụ Việt Nam.
– Ấm:
Nếu như người Trung Hoa thích dùng ấm đất nung (ấm tử sa) trong trà đạo, thì người Việt Nam lại có thói quen dùng các loại ấm gốm tráng men để thưởng trà. Trong đó phải kể đến loại men rạn, do những nghệ nhân Bát Tràng làm nên là nổi tiếng nhất. Ấm men rạn làm khéo, nhìn rất rõ những đường nét gẫy, đứt đoạn, nhưng lại gây cảm giác như được chạm khắc chìm vào thân ấm. Nước men bóng, mượt, sờ vào thấy mát và êm tay. Ấm men rạn dùng để uống trà khô, trà móc câu là ngon nhất. Ngoài men rạn, ấm Bát Tràng còn sử dụng các loại men khác như: men thô, men chảy, men trơn và men lam.
Đối với trà tươi (trà xanh), cần sử dụng những chiếc ấm to hơn, gọi là ấm tích. Lại thêm một cái giỏ (giành) bằng mây, tre đan bên ngoài, ở giữa bọc bởi vải và xốp, nên có thể giữ nóng được cả ngày.
Ấm tích
Người Việt xưa, thích dùng kiểu ấm có quai lắp vuông góc so với vòi và thân ấm. Loại ấm này cầm chắc tay, rót nước đều hơn. Người ta cũng thường buộc một đoạn dây ngắn giữa nắp ấm và quai ấm để giữ cho nắp không bị tuột, rơi ra mỗi khi rót hoặc rửa, tráng ấm. Ngày nay, với sự sáng tạo và giao lưu văn hóa, có rất nhiều mẫu ấm với kiểu dáng, màu sắc, dung tích… đa dạng, phù hợp với các mục đích khác nhau.
– Chén:
Bộ chén “Nhất tống, tứ quân” cổ
Người Việt Nam cũng dùng chén tống, chén quân như người Trung Hoa. Chén quân thì nhỏ như chén hạt mít, chén tống thì to, hợp với uống trà xanh. Phổ biến nhất là các loại chén tráng men rạn, màu da lươn, màu trắng, hoặc chén đất nung màu đỏ đất. Tùy theo cách uống trà hương, trà móc câu hay trà xanh mà dùng loại chén phù hợp.
– Khay và đĩa:
Khay tre
Khay dùng trong trà Việt thường chỉ có một lớp, chất liệu chủ yếu là tre hoặc gỗ. Vì chỉ có một lớp, lại không đặt nặng vấn đề thoát nước, nên kiểu dáng, mẫu mã rất đa dạng. Có khi chỉ là một đoạn cây nguyên khúc được đẽo gọt theo hình hài nhất định, có khi là nhiều mảnh tre vót phẳng ghép vào nhau. Riêng đối với trà ngũ hương, lại cần loại khay đặc biệt, thửa năm chỗ trũng vừa với miệng chén, để hoa trong đó, úp chén lên và bắc lên bếp đun, cho hương quyện vào lòng chén theo hơi nóng. Bình dân, ít điều kiện thì dùng khay nhôm, sắt hay nhựa cũng rất tiện.
Đĩa kê ấm, chén là vật dụng không thể thiếu khi dùng trà Việt. Hiếm có bộ ấm chén nào lại ko có đĩa đi kèm, số lượng thường là sáu cho chén và một cho ấm. Đĩa kê phổ biến cũng là loại gốm tráng men, đồng mầu, đồng kiểu với ấm chén trong bộ.
– Hộp đựng trà:
Là quốc gia chuộng đồ sành sứ, ngay cả hộp đựng trà người Việt Nam cũng thích sử dụng chất liệu đất nung tráng men là chính. Ngoài ra, còn có những hộp đựng làm bằng giấy bồi hoặc bằng gỗ, cứng cáp và khá kín, giữ được trà trong thời gian lâu mà không bị ẩm, mốc. Hộp nếu làm bằng sắt, nhôm, thiếc thì phải có vải, hoặc giấy dầu lót trong để bảo vệ trà không tiếp xúc trực tiếp với kim loại, làm hỏng trà.
– Những đồ dùng khác:
Bộ đồ trà cổ
Văn hóa trà Việt hướng tới sự bình dân, xuất thân từ những người nông dân mộc mạc. Khi uống trà, người ta dùng kèm với trầu, cau, thuốc lá, thuốc lào, bánh đậu xanh, kẹo lạc… nên những dụng cụ như ống nhổ, điếu cày, cơi trầu là hình ảnh thường thấy bên bất cứ bàn trà nào, đặc biệt là khu vực thôn quê dân dã.
——————-
Chương 3: Pha chế và thưởng trà
Trà Việt hướng tới sự bình dân, sự hòa hợp giữa con người với nhau. Nhưng không vì thế mà trở nên sơ sài, đơn giản. Ngược lại, với cái công phu, tỉ mỉ vốn có trong tính cách con người Việt Nam được diễn đạt bởi những âm tiết, thành ngữ Hán Việt càng làm cho trà Việt mang một vẻ đẹp tinh tế, cuốn hút rất riêng.
– Trà đạo dựa trên ngũ hành:
Ngũ hành trong trà đạo
Không chỉ là hòa hợp về tinh thần giữa người với người, mà còn là giữa con người và thiên nhiên. Dùng ngũ hành để đem lại sự cân bằng giữa các yếu tố trong và ngoài cơ thể. Một bộ trà cụ mà giới trà đạo Việt dùng cần có: siêu đồng dùng để đun nước nóng (Kim); kẹp gắp, muỗng xúc trà bằng tre, gỗ (Mộc); Nước nóng được giữ nhiệt tốt trong siêu hay phích (Thủy); Than được dùng để đun là than củi, than sạch không có khói, tỏa mùi thơm gỗ dễ chịu (Hỏa) và bộ ấm chén làm bằng đất nung hoặc có tráng men sứ (Thổ).
Bước đầu tiên là châm lửa trong lò, (trước đây dùng than củi, bây giờ thì còn có cả bếp từ, bếp gas, bếp điện). Khi nhiệt đã đủ nóng, ngọn lửa bốc lên mạnh mẽ rồi, người ta mới bắc lên bếp chiếc ấm đựng nước sạch để đun. Đun đến khi nước sủi tăm, những bong bóng nhỏ cứ nổi lên rồi lại thi nhau vỡ lốp bốp trong siêu, cùng với một làn khói mỏng, trắng len lỏi bay ra – ấy là lúc nước đã sôi đủ rồi đấy. Nhấc siêu lên, nhẹ tay tráng đều cả trong và ngoài bộ ấm chén cho ấm nóng.
Tráng ấm, chén
Dùng thìa xúc ít trà bỏ vào ấm gọi là Ngọc diệp hồi cung. Rót nước vào để làm ướt trà gọi là Cao sơn trường thủy. Ngâm trà trong ấm một lúc, khoảng 5 – 10 giây thì rót ra chén, nước trà đầu chỉ dùng để tráng chứ không uống luôn được.
Sau đó lại rót nước sôi vào ấm lần thứ hai, gọi là Hạ sơn nhập thủy. Lần này ngâm lâu hơn, khoảng 30 giây, rồi mới rót ra chén và bắt đầu dùng trà.
Mời trà
Người pha trà đã cẩn trọng, chăm chút như vậy, thì người uống trà cũng phải tuân theo ít nhiều lễ nghi tương xứng.
Dùng ba ngón tay để đỡ chén trà gọi là Tam long giá ngọc. Đưa chén trà chuyển động sang hai bên trái – phải, mắt nhìn mầu sắc, mũi ngửi hương, cái đó gọi là Du sơn lâm thủy. Uống trà thành từng ngụm nhỏ để cảm nhận hương vị tan dần trong vòm miệng, trôi xuống họng mang theo cảm giác khoan khái, từ đắng, chát chuyển sang ngọt dần. Ấy là cái thú của người uống trà, là tình cảm giữa bạn hữu, láng giềng và sự hòa hợp, gắn bó với những người xung quanh.
Thưởng trà tùy từng thời điểm, từng hoàn cảnh mà mang những ý nghĩa khác nhau: Thưởng trà đầu xuân là lúc những người thân trong gia đình mừng tuổi, chúc Tết lẫn nhau trong bầu không khí đầm ấm, sum họ; Thưởng trà của các bậc cao niên, có tuổi, của giới văn nghệ sĩ hay bao gồm tiết mục bình thơ, ngắm hoa nở, luận đàm về những vấn đề của cuộc sống; Thưởng trà với bạn bè là lúc để nói chuyện vui vẻ, cười đùa; Đối ẩm để tâm sự những điều kín đáo với người tâm giao; Độc ẩm để tìm vào tĩnh lặng, suy nghĩ về bản thân mình…
Trà đạo Việt
Thưởng trà ngũ hương thì người ta dùng một loại khay đặc biệt, trên mặt thửa 5 chỗ trũng, để vào đó những loại hoa dễ bắt hương nhất như: sen, nhài, ngâu, sói, cúc rồi úp chén lên. Bắc lên bếp hơ nóng cho hương quyện vào lòng chén, pha trà mạn ngon rồi rót vào chén. Người uống trà nhận chén và qua cảm nhận mà đoán ra trong đó là mùi hương của hoa gì. Chỉ có 5 người trong mỗi buổi tiệc trà như vậy, thay nhau hoán đổi để cùng thưởng thức được hết các mùi vị của hoa và trà. Đó là một nét văn hóa tao nhã, độc đáo, riêng biệt của người Việt Nam.
——————-
Lời kết
Trà Việt ý nghĩa là như vậy đấy, vừa tinh tế mà cũng vừa giản đơn. Ai cũng có thể uống trà, từ bình dân cho đến bậc vua chúa; từ nông thôn cho đến thành thị; từ người nghèo cho đến người giàu… Qua một ấm chè với những chiếc chén nhỏ, chứa đựng ở đó sự hòa hợp, bao dung, lễ nghi, tấm lòng của chủ và khách. Đó là một thứ công phu. Công phu của sự hòa thuận giữa con người với nhau.
Hà Nội, tháng 04 năm 2010.
Xem tiếp »
Trà đạo là một nghệ thuật, đòi hỏi không ít công phu.
– Flame,
—————————
Chương 1 – Truyền thuyết về Trà
Vua Thần Nông là ông tổ của ngành nông nghiệp và y học Trung Hoa. Trong một lần lên núi hái thuốc, Vua ngồi nghỉ dưới một gốc cây và uống nước. Tình cờ lá trên cây rụng xuống đúng vào chén nước nóng, một lúc sau phai ra khiến nước chuyển sang màu xanh. Uống vào thấy mát và khoan khái khắp cơ thể. Vua liền hái nhiều lá đem về, chế biến và khởi thủy cho nghệ thuật trà đạo hiện nay.
Ở Trung Quốc, trà được phân làm năm nhóm: Thanh trà, lục trà (trà xanh); Ô Long trà; Hồng trà (trà đỏ, trà đen); Hoa trà (trà ướp hương các loại hoa); và Trà ép (trà ép thành bánh). Trong đó lại được chia ra làm các tiểu nhóm nhỏ hơn với những thương hiệu rất nổi tiếng.
– Trà xanh có: trà “Long tỉnh” của Tây Hồ, Hàng Châu; trà “Bích loa xuân” của Thái Hồ, Giang Tô; trà “Hoàng Sơn mao đài” của Hoàng Sơn, An Huy; trà “Lục An qua phiến” của Lục An, An Huy; trà “Tín Dương mao tiêm” của Tín Dương, Hồ Nam.
– Trà Ô Long có: trà “Di nham” của Phúc Kiến; trà “Thiết Quan âm” cũng của Phúc Kiến; trà “Oo long nhân sâm” của Đài Loan.
– Hồng trà có: trà “Chấn hồng” của Vân Nam; trà “Đại hồng bào” của Vũ Di, Phúc Kiến.
– Trà hoa có trà ướp hoa nhài của Phúc Châu, Hàng Châu và Tô Châu.
– Trà ép có: trà “Phổ nhĩ” của Tư Mão, Vân Nam; trà “Tây song bản nạp”, trà “Lục bảo” của Quảng Tây.
Mỗi một cái tên gắn liền với những truyền thuyết khác nhau.
1. Tây Hồ Long tỉnh (*)
Trà Long Tỉnh
Truyền rằng, Vua Càn Long trong một lần vi hành xuống vùng Giang Nam, có dừng chân tại một quán nước ở thôn Mai Gia Ô (thành Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang) và dùng loại trà này. Thấy trà ngon nên nổi hứng rót mời những người khác trong quán, rồi lại sai tùy tòng mua về cung dùng dần. Một thời gian sau, trà dần hết, Vua liền sai cận thần về Mai Gia Ô để lấy thêm. Vị quan này hết sức cẩn thận, dọc đường đi bỏ mấy lá trà Vua ban vào trong một quyển sách đề phòng bị hư hỏng. Khi đến nơi, lá trà bị ép dẹt lại, không ngờ lại khiến người dân trong thôn hiểu nhầm rằng Vua muốn trà lá nào cũng phải ép dẹt như thế… Chính vậy nên, từ đó trở đi trà Long tỉnh đều được sao chế khác hẳn các loại trà khác. Dân chúng trong vùng cũng được miễn nộp thuế, thay bằng nộp trà.
Cái tên “Long tỉnh” là do Vua ban. Nguyên rằng, lúc ấy Vua nhìn thấy cây trà rủ bóng soi suống giếng nước giống hình con rồng uốn lượn, nên gọi là “Long tỉnh trà” (Long là rồng, Tỉnh là cái giếng, Long tỉnh – rồng cuộn trong giếng).
2. Động Đình Bích loa xuân (**)
Theo ghi chép ”Thanh Gia lục”, có truyền thuyết rằng: Núi đông Động Đình có đỉnh Bích Loa, trên vách đá dựng đứng có vài cây trà mọc hoang dã. Mỗi năm, người dân trong vùng lại tới hái lá trà về uống.
Bấy giờ, khi tiết hái trà đến gần, mọi người lên núi, thấy cây trà cành lá mọc xum xuê, ai cũng thi nhau lấy, giỏ tre đựng không đủ, bèn giắt cả vào ngực áo. Lá trà ấp vào ngực, gặp hơi nóng tỏa ra từ cơ thể, phát ra mùi hương kỳ lạ. Mọi người nhất loạt thốt lên: “Nhân hương”. Từ đó về sau, mỗi lần hái trà, mọi người không dùng giỏ tre mà đều ôm vào ngực. Loại trà mang tên “Nhân hương” – ý là chỉ mùi thơm lá trà phát ra từ cơ thể con người. Khi vua Khang Hy du ngoạn Thái Hồ, người dân dâng trà khiến vua mê mẩn với mùi vị tuyệt hảo. Cảm thấy tên gọi “Nhân hương” không ưu nhã Vua liền cho đổi thành “Bích loa xuân”.
Có lời giải thích khác rằng: Trà thường được hái vào tiết Thanh Minh và tiết Cốc Vũ (ngay sau tiết Thanh Minh) tức mùa xuân, nên trong tên trà có chữ Xuân. Bích là chỉ màu xanh của lá trà, Loa nghĩa là con ốc, vì lá trà được cuộn lại khi sấy khô, trông như hình con ốc.
3. An Khê Thiết Quan âm
Trà Thiết Quan Âm
Thời vua Càn Long nhà Thanh, ở thôn Tùng Lâm có người tên Ngụy Ẩm rất tin theo Phật. Mỗi buổi sáng sớm, thường pha một cốc trà thanh tịnh và cúng trước tượng Phật Quan âm đại sĩ. Một hôm, anh lên núi kiếm củi, tìm ra một cây trà, trong ánh bình minh lóe rạng, lá trà như phát tỏa hào quang. Ngụy Ẩm đào cây mang về nhà, chăm sóc chu đáo. Lá trà sau này chế thành loại “Ô Long trà” với hương vị đặc biệt, có màu xanh đen như sắt thép, đặt lên tay thấy nặng hơn các loại trà khác, vị thanh, hương giống cây cỏ thơm nên gọi là “Thiết Quan âm”.
4. Quân sơn ngân châm
Vua Minh Tông sau thời Ngũ Đại, một hôm thiết triều, thái giám dâng chén trà. Khi rót nước pha trà, có bóng hạc soi đáy cốc, ngước nhìn lên không trung thấy một con hạc trắng quay đầu về phía vua gật ba cái rồi bay đi. Chén trà đột nhiên dâng lên làn hương cùng bọt nhỏ từ dưới đáy, lăn tăn bóng nước, chầm chậm lan tỏa không dứt, nhác trông giống bông hoa tuyết. Lại hợp với lời tâu thái giám “loại trà này pha bằng chiếc lông hạc”. Hạc trắng cúi đầu chào ba lần, ý như cung chúc vua vạn tuổi. Vua cảm động và sung sướng, cho đặt tên là trà Quân sơn ngân châm.
5. Vũ Di Đại hồng bào (***)
Thời vua Khang Hy của triều Thanh, có một anh học trò rất nghèo vác lều chõng đi thi ở Bắc Kinh. Khi trèo qua núi Vũ Di thì bị đói lả người và nằm thiếp đi dưới một tàng cây. Rất may được một vị sư đi ngang qua, hái lá cây đó pha nước cho uống. Chàng tỉnh dậy và hồi sức tiếp tục lên đường đi thi.
Sau khi thi đỗ làm quan, chàng được vua cho về thăm gia đình. Khi ghé lại chốn xưa, tìm thăm vị sư nọ để báo ân, chàng hỏi xin một ít lá mà sau này mới biết là một loại trà ở địa phương đấy. Chàng còn mang về kinh thành một ít để dâng lên cho vua, đúng lúc nhà vua đang lâm bệnh. Kì diệu thay sau khi uống thử, sức khỏe hồi phục nhanh chóng. Vua liền thưởng cho chàng một cái áo choàng đại bào màu đỏ và truyền lệnh cho dân Phúc Kiến hàng năm dùng giống trà đặc biệt đấy để làm vật tiến cung. Loại trà này được gọi bằng tên “Đại hồng bào” và nổi tiếng từ đấy.
—————————
Chương 2: Trà cụ
Trà cụ – là thuật ngữ, dùng để chỉ các dụng cụ cần thiết trong trà đạo. Để pha được một ấm trà ngon, tất yếu cần đến loại trà tốt, kỹ thuật của người pha chế (Trà nô) và một bộ trà cụ hợp lý.
Trà cụ của Trung Hoa thường gồm những thứ sau:
– Ấm:
Ấm có hai loại: Lưu hương và Không lưu hương.
Ấm không lưu hương sau khi uống, rửa sạch thì không còn lưu hoặc chỉ lưu lại rất ít hương vị của trà vừa dùng. Chất liệu của nó có thể từ gốm sứ (phổ biến nhất) cho đến thủy tinh, kim loại… Ấm tốt nhất nên lau rửa thường xuyên.
Nếu chủ nhân là người cầu kì, muốn thưởng thức hương vị của từng loại trà riêng biệt nhau thì nên sử dụng ấm lưu hương. Sau mỗi lần uống, hương thơm đặc trưng của trà vẫn còn lưu lại trong ấm, càng uống nhiều thì hương càng đậm, lưu càng lâu. Ấm lưu hương thường làm bằng chất liệu đất nung, sơ mộc, uống xong không cần phải rửa, men trà càng bóng, càng dày nghĩa là ấm được dùng càng nhiều, càng lâu và càng quý.
Đỉnh cao của nghệ thuật nặn ấm Trung Hoa chính là “ấm Tử sa”, một trong bốn quốc bảo (ấm Tử sa, lụa Tô Châu, Kinh dịch, tranh Thủy mặc).
Ấm Tử sa
Ngoài ra, người ta còn chia ấm thành loại dành cho một người (độc ẩm), hai người (song ẩm) và nhiều người (quần ẩm).
– Chén:
Chén có hai loại: chén tống và chén quân. Chén tống (hoặc chuyên), là loại chén to, dùng để chuyên trà ra các chén nhỏ. Chén quân là loại chén hạt mít, mà người Trung Quốc thường dùng khi uống trà.
Chén tống
Chén tống cũng có thể gọi là cốc trà, là loại đất nung được tráng men sứ, trên có nắp đậy, dưới có đĩa lõm ở giữa để vừa khít với chân cốc. Người uống trà sẽ bỏ vài lá trà vào cốc, thêm nước nóng và đậy nắp lại. Lát sau là có thể uống được. Khi nước nguội, hoặc hết, lại chế thêm nước sôi vào. Cứ như thế cũng được vài tuần trà. Cách này chủ yếu phù hợp với những người ít thời gian, không gian và trà cụ để uống trà ấm.
Chén lại có một loại có thiết kế đặc biệt hình trụ dài gọi là chén thưởng hương. Khi sử dụng, hơi nóng của nước sẽ đưa hương trà quyện vào trong lòng chén. Dùng để thưởng hương thuần túy được lâu và đậm hơn.
Chén thưởng hương
– Phễu lọc:
Phễu lọc
Dùng kết hợp với chuyên hoặc chén tống. Bộ phận quan trọng nhất là một lớp màng mỏng làm bằng tơ hoặc sợi kim loại, lỗ nhỏ, khít, dùng để lọc, giữ lại lá trà, vụn bẩn trong trà và nước.
– Khay và đĩa:
Khay trà hai lớp
Dùng để kê, lót dưới đáy ấm, chén. Chất liệu thường dùng là tre, trúc, gỗ và đất nung. Loại khay có hai lớp thì lớp trên có trổ hoa văn, họa tiết và đường rãnh để thông nước. Lớp dưới kín, dùng để chứa nước trào ra.
Đĩa, chủ yếu cần kiểu dáng, màu sắc đẹp. Chất liệu và độ dày làm sao để ít dẫn nhiệt, lại nhẹ, cầm vừa tay là tốt nhất.
Bộ trà cụ
– Muỗng, dùng để xúc trà ra khỏi hộp. Phễu kê trên miệng ấm để trà khi bỏ vào không bị rơi ra ngoài. Kẹp dùng để tráng, luộc chén và gắp bã trà. Thìa dùng để gạt bã và một Que nhỏ để thông vòi ấm. Bộ dụng cụ này đựng trong một ống trà cụ rất gọn gàng.
– Lọ đựng trà thì nắp phải khít, thành phải kín để trà tránh tiếp xúc với không khí và ánh sáng. Lại có thêm một cái bát to để tráng ấm, chén gọi là Thuyền trà. Nếu có thêm một cái Lọ đựng bã trà và nước bỏ đi thì tức là đã đầy đủ cho một buổi tiệc trà rồi đó.
– Những phụ kiện khác có thể kể đến như: lò và ấm đun nước, phích đựng nước sôi, tráp trầm hương và các món đồ chơi, trang trí đa dạng khác (thằng bé thử nước, song Lân vờn cầu, tượng phật Di Lặc…).
—————————
Chương 3: Pha chế và thưởng trà
Vào buổi tiệc trà, Trà nô trước tiên phải luộc ấm, chén cho thật nóng và sạch sẽ bụi bẩn. Sau đó, dùng muỗng xúc một lượng trà vừa đủ cho vào ấm (căn cứ vào số người và sở thích đậm, nhạt của người uống).
Rót nước đầu tiên vào ấm để đánh thức trà. Nước rót vào chỉ chừng 1/3 ấm, đủ để ngập xâm xấp trà, cốt để trà mềm đi, không bị nổi lềnh phềnh lên khi pha. Nước không ngâm lâu, mà rót ra chén ngay. Rồi lại từ chén dội ngược lại ấm. Cái này gọi là nghi thức “tắm ấm”, giúp ấm thơm đượm hương trà cả trong và ngoài.
Rót nước thứ hai thì nhiều hơn hẳn, nước không chỉ đầy mà còn tràn ra khỏi miệng ấm, vừa để đẩy nốt bụi bẩn ra khỏi ấm, vừa khiến tạo thành một cái gioăng bằng nước nơi miệng ấm, có tác dụng giữ nóng cho không gian trong ấm. Để trà ngấm trong khoảng một phút rồi rót đều ra các chén.
Khi rót nước vào ấm, nên đưa tay chuyển động lên xuống, trái phải đều đặn, tạo thành những dòng nước lưu chuyển nhịp nhàng, giúp đảo trà trong ấm.
Rót trà ra chén có nhiều cách. Có thể rót ra chuyên hoặc chén tống, rồi sau đó mới chia đều ra các chén quân. Mục đích để nước trà đậm nhạt như nhau, lại có thể kết hợp với phễu lọc để loại bớt bụi và xác trà. Cách khác thì rót thẳng ra các chén uống luôn, nhưng phải theo nguyên tắc rót vòng tròn – từ chén đầu đến chén cuối, rồi ngược lại.
Uống rượu thì “tiền khách hậu chủ”, nhưng uống trà thì “tiền chủ hậu khách” – bởi lẽ nước đầu, chén đầu bao giờ cũng nhạt hơn những chén sau một chút. Gia chủ hiếu khách thì luôn nhận cái chén trà “không ngon” ấy cho mình, nhường cho khách những chén về sau. Văn hóa Á đông là như vậy đấy.
Khi thưởng thức trà, trà nhân (người uống trà) bắt đầu bằng việc nhìn ngắm màu sắc nước trà trong chén, đưa lên mũi ngửi mùi hương rồi mới nhấp từng ngụm nhỏ, từ từ cảm nhận bằng vị giác với hơi nóng lan tỏa trong vòm họng. Nếu pha trà đã đòi hỏi nhiều công phu, thì thưởng trà lại càng phải rèn luyện nhiều mới cảm được hết cái công phu ấy, phân biệt được hương vị đặc trưng của từng loại trà.
Trà đạo Trung Hoa, hay còn gọi là Kung-fu Trà, hướng tới cái đẹp (Mỹ) là chính. Từ bộ trà cụ, cách thức pha trà, thưởng trà, cho đến bản thân từng loại trà cũng được thêu dệt với những huyền thoại, truyền thuyết đi kèm. Bên cạnh đó, người Trung Quốc cũng đặc biệt chú ý đến dược tính của trà. Dùng trà như một phương thuốc giúp bồi bổ sức khỏe, tăng sự tỉnh táo, hỗ trợ các phương pháp thiền. Với lối uống trà cốc, người ta thường pha trộn thêm những thảo mộc khác như thảo quả, táo khô, vỏ quít sấy khô cùng nhiều dược liệu khác.
—————————
Lời kết:
Chơi trà đòi hỏi không ít công phu. Để trở thành nghệ nhân, người sành trà hay ít ra là thích, hiểu về trà tất cần phải uống nhiều, dùng nhiều, lấy kinh nghiệm làm kiến thức, lấy đam mê, tìm tòi, học hỏi mà tự làm cho mình biết nhiều hơn. Rồi sau đó lại truyền thụ hay đàm luận cùng người khác. Chân lý chính là như vậy đấy!
Hà Nội, tháng 10 năm 2009.
– Flame,
—————————
Nguồn tham khảo:
Nguồn tham khảo:
(*) : Diêu Linh, “Trà Long Tỉnh”
(**) : Songcongtea, “Chuyện những danh trà Trung Quốc”
(***) : Bí bếp, “Tản mạn chuyện trà, la cà chuyện rượu”
---------
Quyển sau: Trà Việt Nam
(**) : Songcongtea, “Chuyện những danh trà Trung Quốc”
(***) : Bí bếp, “Tản mạn chuyện trà, la cà chuyện rượu”
---------
Quyển sau: Trà Việt Nam
Xem tiếp »
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





























